Hỏi đáp về thừa kế 3876 Lượt xem Vợ có được hưởng thừa kế của chồng khi không đăng ký kết hôn hay không?

Vợ có được hưởng thừa kế của chồng khi không đăng ký kết hôn hay không?

Hiện nay vẫn còn nhiều trường hợp chung sống như vợ chồng, lấy nhau không đăng ký kết hôn. Vậy liệu không đăng ký hết hôn thì có được hưởng thừa kế không?

Hiện nay vẫn còn nhiều trường hợp chung sống như vợ chồng, lấy nhau không đăng ký kết hôn. Vậy liệu không đăng ký hết hôn thì có được hưởng thừa kế không?

Câu hỏi: Tôi và chồng làm cùng là công nhân tại một khu công nghiệp. Cuộc sống xa nhà, cả hai người đều vẫn chưa vợ chưa chồng nên chúng tôi đã dọn về ở với nhau sống với nhau được 7 năm, có với nhau 2 đứa con. Do bị tai nạn lao động mà chồng tôi qua đời đột ngột không để lại di chúc. Tôi biết ở quê anh ấy có một mảnh đất là tài sản bố mẹ cho. Tôi muốn hỏi luật sư không đăng ký kết hôn thì có được hưởng thừa kế không? Liệu tôi có quyền được hưởng thừa kế mảnh đất đó của chồng không?

Luật sư tư vấn
Thắc mắc được gửi tới cho Luật sư công ty và được giải đáp như sau:
Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó
Tại thời điểm này mắc dù Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực pháp luật thay thế cho Luật năm 2000 nhưng Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình vẫn còn hiệu lực thi hành và chưa được sửa đổi , bổ sunng hay bãi bỏ bằng văn bản khác vì vậy Chúng tôi căn cứ vào quy định tại Mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ10 về thi hành Luật hôn nhân và gia đình:
"a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;
c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết".
Theo đó mặc dù bạn và “chồng” đã chung sống được 7 năm nhưng vì không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Vì “chồng” bạn không để lại di chúc nên việc hưởng thừa kế sẽ theo quy định của pháp luật dân sự về hưởng thừa kế theo pháp luật. Cụ thể Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về những người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Như vậy vì bạn và “chồng” không được pháp luật công nhận là vợ chồng nên sẽ không được hưởng thừa kế di sản của chồng. Tuy nhiên, 2 người con của bạn sẽ có quyền được hưởng di sản từ người cha của mình.
Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc cho chúng tôi, chúc bạn mạnh khỏe và thành công trong cuộc sống!
Công ty luật Thái An là công ty hàng đầu trong lĩnh vực tư vấn hôn nhân và gia đình. Chúng tôi chuyên tư vấn ly hôn, thủ tục ly hôn hay dịch vụ ly hôn.. Hãy đến với chúng tôi để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm tư vấn.

 

TƯ VẤN

Nếu bạn cần được tư vấn, hãy gọi 1900 6218

Nếu bạn yêu cầu dịch vụ, hãy gọi
1900 6218

hoặc viết thư tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An