Hỏi đáp về ly hôn 2700 Lượt xem Ly hôn sau thời gian dài sống ly thân

Ly hôn sau thời gian dài sống ly thân

Thưa luật sư, tôi muốn trình bày và cần được tư vấn mong được giúp đỡ.

Thưa luật sư, tôi muốn trình bày và cần được tư vấn mong được giúp đỡ.

Tôi xin trình bày sự việc như sau: tôi kết hôn với chồng tôi năm 2009. Năm 2010, tôi có một bé trai sau 6 tháng do hoàn cảnh tôi đã ly thân và nuôi con trai một mình đến bây giờ và ở nhà bố mẹ tôi. Trong năm năm từ 2010 đến 2015, tôi không nhận được hỗ trợ kinh tế. Hoan cảnh gia đình tôi rất khó khăn và là hộ nghèo của phường, tôi thi k có việc làm ổn định. Con trai của tôi hoàn toàn phải xin trợ cấp của phường, ăn bữa cơm bữa mỳ, đi học cũng không được tốt vì khó khăn về tiên bạc. Chồng tôi hiện tại có công việc tốt, có nhà và có tiên và đang ở với người con gái khác, cô ta đang mang bầu được vài tháng. Anh ta muốn ly hôn với tôi nhưng tôi không chịu ký vào giấy vì tôi biết nếu tôi ký vào đơn ly hôn thì con tôi sẽ không có gì, bố nó sẽ bỏ và không lo cho nó nữa. Lúc đó con tôi sẽ rất khổ và sẽ không nhận được gì từ bố đứa trẻ. Anh ta nói sẽ làm đơn ly hôn đơn phương, vậy theo luật sư tôi phải làm như thế nào. Tôi muốn con tôi được bồi thường và hưởng quyền lợi thì tôi phải làm thế nào? Rất mong được luật sư giúp đỡ.

Người gửi: Ngọc Phạm
song ly than gio muon ly hon

Chào chị và cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đến tư vấn ly hôn của Công ty luật Thái An.

Qua trình bày của chị, chúng tôi thấu hiểu phần nào những khó khăn mà mẹ con chị đã trải qua trong thời gian qua. Mong rằng với sự tư vấn sau đây của chúng tôi, chị và con sẽ vượt qua được những khó khăn trước mắt, mong chị đọc kỹ những tư vấn này để bình tĩnh, sáng suốt trong quá trình giải quyết vấn đề với chồng chị.

Thứ nhất, chấm dứt hành vi chung sống với nhau như vợ chồng giữa chồng chị và cô gái thứ ba.

Cô gái chung sống với chồng chị là người đang có vợ như vợ chồng là đã xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 – Luật hôn nhân và gia đình 2014: cấm “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.

Do đó, kể cả khi chồng chị đã nộp đơn xin ly hôn mà chưa có quết định của tòa án, chị vẫn có thể trình báo với cơ quan công an xã, phường, thị trấn nơi chồng chị hiện đang sinh sống về sự việc nêu trên. Trong trường hợp này, theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 48 – Nghị định số 110/2013/NĐ-CP thì chồng chị và cô gái kia sẽ bị xử phạt về hành chính:

"Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ".

Chị cũng có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng chị hiện đang sinh sống hủy việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa chồng chị và cô gái đó.

Trong trường hợp chồng chị và cô gái đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi chung sống với nhau như vợ chồng nêu trên hoặc đã có quyết định hủy việc chung sống với nhau như vợ chồng của Tòa án mà vẫn tiếp tục thì chị có thể tố cáo với cơ quan công an để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 147 – Bộ luật hình sự:

“1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Thứ hai, vê việc xin ly hôn đơn phương của chồng chị.

Theo khoản 1 Điều 51 – Luật hôn nhân và gia đình thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong trường hợp của chị, chồng chị đã thực hiện đơn phương xin ly hôn là không trái quy định của pháp luật. Tòa án chỉ bác đơn xin ly hôn của chồng chị khi vợ (chị) đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 51 – Luật hôn nhân và gia đình) nhưng như trình bày chị không nằm trong trường hợp trên. Trong trường hợp của chị, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khó có thể tiếp tục kéo dài do chồng chị không thực hiện nghĩa vụ của người cha, người chồng và còn vi phạm chế độ một vợ, một chồng; do vậy, việc Tòa án có giải quyết cho ly hôn hay không phụ thuộc rất lớn vào sự thỏa thuận, hòa giải của hai bên.

Trong trường hợp của chị, chúng tôi khuyên chị nên thực hiện việc ly hôn với chồng. Vì những lý do sau:

  • Tình cảm giữa chị và chồng – điêu kiện cơ bản để duy trì một cuộc hôn nhân hạnh phúc từ lâu đã không còn.
  • Ly hôn sẽ tạo cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm trợ cấp của chồng chị với con.
  • Nếu không ly hôn thì con chị cũng vẫn không hề nhận được trách nhiệm từ cha vì trong thời gian sống ly thân, chồng chị cũng không hề hỗ trợ chị trong chi phí nuôi con.

Thứ ba, về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

Khoản 2 Điều 81 – Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Như vậy, trước tiên chị nên thỏa thuận với chồng để giành quyền trực tiếp nuôi con. Nếu chồng chị không đồng ý thì Tòa án sẽ quyết định người trực tiếp nuôi con. Khi đó, chị sẽ yếu thế hơn chồng chị về điều kiện vật chất để nuôi dạy con nhưng chị cần nhấn mạnh trước tòa về vấn đề nhân thân của chồng chị như sau để Tòa án có căn cứ quyết định:

  • Chồng chị trong suốt thời gian ly thân đã không làm tròn nghĩa vụ của người cha khi bỏ mặc con mình, không hỗ trợ chị kinh phí nuôi con.
  • Chồng chị còn có hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

Một người cha như vậy sẽ khó lòng đem lại sự chăm sóc, giáo dục tốt nhất cho con chị dù có điều kiện vật chất tốt hơn. Ngoài ra, vì con chị đã sống với chị và được chị chăm bẵm từ khi còn nhỏ nên chị là người hiểu con và có cách chăm sóc, giáo dục con tốt hơn người chồng. Với những lập luận trên, chúng tôi tin rằng với sự công tâm trên nguyên tắc tôn trọng quyền lợi về mọi mặt của đứa trẻ, Tòa án sẽ quyết định giao con cho chị trực tiếp nuôi nấng.

Chồng chị có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi là chị. Sau khi ly hôn, chồng chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu chồng chị lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Và quan trọng nhất, sau khi ly hôn chồng chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng do chồng chị và chị thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của chồng chị và nhu cầu thiết yếu của con chị; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ tư, về vấn đề tài sản.

Theo chị cung cấp thông tin, chồng chị đang sở hữu một ngôi nhà là nơi chung sống của chồng chị và cô gái kia. Do vậy, nếu ngôi nhà này được mua trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và chồng mà chồng chị không chứng minh được ngôi nhà được mua bằng tài sản riêng của chồng chị không thuộc khối tài sản chung của vợ chồng chị thì ngôi nhà đó thuộc sở hữu chung của chị và chồng chị. Nên khi ly hôn, tài sản chung sẽ được chia cho cả chồng chị và chị nếu hai người không có thỏa thuận theo các nguyên tắc được Luật Hôn nhân và gia đình quy định.

TƯ VẤN

Nếu bạn cần được tư vấn, hãy gọi 1900 6218

Nếu bạn yêu cầu dịch vụ, hãy gọi
1900 6218

hoặc viết thư tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An