Hỏi đáp về ly hôn 854 Lượt xem

Tranh chấp bất động sản có trước thời kỳ hôn nhân sau khi ly hôn

Thưa luật sư, tôi và chồng ly hôn. Tài sản chung của chúng tôi là mảnh đất 40m và ngôi nhà trên đất. Trước khi cưới tôi 1 tháng chồng tôi dùng tiền của mình mua mảnh đất 30m vào năm 2000. Sau đó trong thời kỳ hôn nhân tôi và chồng cùng mua thêm 10 m nữa. Đến năm 2010 chúng tôi làm sổ đỏ cho mảnh đất, sổ đỏ đứng tên tôi, chồng và con trai tôi. Đất và nhà được định giá là 1 tỷ 600 triệu. Tòa án sơ thẩm phán quyết nhà và đất thuộc về chồng tôi...

Thưa luật sư, tôi và chồng ly hôn. Tài sản chung của chúng tôi là mảnh đất 40m và ngôi nhà trên đất. Trước khi cưới tôi 1 tháng chồng tôi dùng tiền của mình mua mảnh đất 30m vào năm 2000. Sau đó trong thời kỳ hôn nhân tôi và chồng cùng mua thêm 10 m nữa. Đến năm 2010 chúng tôi làm sổ đỏ cho mảnh đất, sổ đỏ đứng tên tôi, chồng và con trai tôi. Đất và nhà được định giá là 1 tỷ 600 triệu. Tòa án sơ thẩm phán quyết nhà và đất thuộc về chồng tôi. Còn tôi được anh ý đưa số tiền là 500 triệu coi như công sức đóng góp của tôi. Tôi cảm thấy bức xúc vì quyết định trên của tòa, xin hỏi các luật sư quyết định trên của Tòa sơ thẩm đã công bằng hay chưa?

Chào chị, Công ty Luật Thái An đã nhận được câu hỏi của chị. Cảm ơn chị đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của chị công ty xin giải đáp như sau:

Theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2015 quy định Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Trường hợp của chị theo những thông tin mà chị cung cấp mảnh đất là tài sản riêng của chồng chị từ năm 2000 tuy nhiên trong thời kỳ hôn nhân hai người đã cùng nhau xây dựng và củng cố tài sản trên để đến năm 2010 khi làm sổ đỏ đứng tên hai vợ chồng và con trai. Việc chồng chị đồng ý cho chị và con trai thể hiện rằng chồng chị đã góp tài sản riêng của mình vào tài sản chung của anh chị trong thời kỳ hôn nhân. Nên về nguyên tắc thì ngôi nhà và đất từ thời điểm năm 2010 là tài sản chung của anh chị trong thời kỳ hôn nhân.

Cũng theo quy định tại Điều 59 về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. 6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy việc Tòa sơ thẩm phán quyết chỉ chia cho chị 500 triệu có thể không phù hợp với quy định của pháp luật. Do chị chưa cung cấp cụ thể các tình tiết của vụ án nên chúng tôi chưa thể đưa ra tư vấn cụ thể. Nhưng trước hết chị nên viết đơn kháng cáo trong vòng 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Sau đó gửi cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố yêu cầu xét xử lại vụ việc của mình.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

CÔNG TY LUẬT THÁI AN
Đối tác pháp lý tin cậy

TƯ VẤN

Bạn cần được tư vấn hay yêu cầu dịch vụ pháp lý ?

Hãy gọi
1900 6218

Hoặc viết email tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An