Hỏi đáp về ly hôn 743 Lượt xem

Quyền nuôi con và phân chia tài sản sau ly hôn được quy định như thế nào ?

Sau khi ly hôn, quyền nuôi con và phân chìa tài sản sẽ như thế nào, hãy cùng công ty luật Thái An tìm hiểu thông qua tình huống cụ thể sau đây.

Xin chào luật sư, tôi và chồng kết hôn năm 2011, hiện tại chúng tôi đang có 2 đứa con, 1 bé gái năm nay 4 tuổi và 1 bé trai mới được 24 tháng, tài sản gồm có: 1 căn nhà 3 tầng đang ở được bố mẹ chồng tôi cho 2 vợ chồng khi kết hôn, 1 mảnh đất mà trước khi kết hôn chồng tôi tự tích góp mua được, 1 chiếc xe ô tô 4 chỗ 2 vợ chồng mua sau khi kết hôn. Tôi hiện đang là giáo viên cấp 2, còn chồng tôi là nhân viên văn phòng. Nay chúng tôi muốn ly hôn, tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp, nếu ly hôn tôi có quyền nuôi con không, tôi muốn được nuôi cả 2 đứa nhưng chồng tôi không đồng ý, và tài sản sau khi ly hôn sẽ được phân chia thế nào? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Thái An, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất: về quyền nuôi con.

Theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014, về việc nuôi con thì pháp luật quy định vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về việc nuôi con sau ly hôn. Nếu không thỏa thuận được thì giải quyết căn cứ theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 81, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2.Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3.Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Như vậy, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được về vấn đề nuôi con mà bạn muốn giành quyền nuôi cả 2 con thì bạn phải có căn cứ để chứng tỏ bạn phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con về mọi mặt hơn hẳn chồng của bạn. Tòa án sẽ dựa trên những căn cứ đó cân nhắc, xem xét vợ hay chồng có quyền nuôi con. Ngoài ra, theo khoản 3, Điều 81, Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thì do vợ chồng bạn có 1 bé trai mới 24 tháng và bạn hiện đang là giáo viên, có thể thấy bạn có đủ điều kiện trược tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con, như vậy, bé trai này sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Thứ hai, về việc phân chia tài sản khi ly hôn.

Nguyên tắc phân chia tài sản sau ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo Điều 59, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận phân chia tài sản khi ly hôn, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Khi Tòa án giải quyết, thì để phân chia được tài sản khi ly hôn phải xác định được đâu là tài sản chung và đâu là tài sản riêng của vợ, chồng. Căn cứ để xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng sẽ dựa vào Điều 43 Luật hôn nhân gia đình để xác định đâu là tài sản riêng và Điều Điều 33 Luật hôn nhân gia đình để xác định đâu là tài sản chung.

Theo như tình huống bạn đưa ra, chúng tôi xác định như sau: tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ là 1 căn nhà 3 tầng đang ở được bố mẹ chồng bạn cho 2 vợ chồng khi kết hôn và 1 chiếc xe ô tô 4 chỗ 2 vợ chồng mua sau khi kết hôn; còn tài sản riêng của chồng bạn là 1 mảnh đất mà trước khi kết hôn chồng bạn tự tích góp mua được.

Khi ly hôn:

-Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+  Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

-Tài sản riêng của chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật hôn nhân gia đình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình của công ty luật Thái An.

Công ty Luật Thái An

Đối tác pháp lý tin cậy

TƯ VẤN

Bạn cần được tư vấn hay yêu cầu dịch vụ pháp lý ?

Hãy gọi
1900 6218

Hoặc viết email tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An