Hỏi đáp về ly hôn 1068 Lượt xem

Quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Đầu năm 2011, sau khi kết hôn, vợ chồng tôi cùng mua một mảnh đất 210m2 và thống nhất là đứng tên vợ tôi. Năm 2014, do điều kiện công việc nên tôi phải đi làm xa, vợ tôi đã bán mảnh đất này cho người khác (tôi không hề biết). Đến nay, sau khi trở về và tiến hành thủ tục ly hôn (do vợ tôi ngoại tình, bỏ mặc không chăm sóc con cái), tôi mới biết được chuyện này. Xin hỏi Luật sư Công ty luật Thái An: Tôi có thể lấy lại đất đó được không? Tôi phải làm như thế nào? Trần Công Chiến, Thái Bình.

định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Công ty luật Thái An trả lời bạn như sau:

Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Theo như nội dung bạn đã trình bày, chúng tôi hiểu rằng mảnh đất đó là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, mặc dù trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên vợ bạn nhưng mảnh đất này vẫn là tài sản chung của vợ chồng bạn.

Khoản 2 và 3 Điều 24 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ chồng như sau:

- Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

- Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung như sau:

Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình

Như vậy, trường hợp vợ bạn muốn giao dịch quyền sử dụng đất thì phải có văn bản thỏa thuận của hai vợ chồng hoặc văn bản ủy quyền của bạn cho vợ mình khi thực hiện giao dịch này. Tuy nhiên, như bạn đã trình bày, vợ bạn đã tự mình thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất mà không được sự đồng ý của anh. Vì vậy, hành vi trên đã vi phạm quy định pháp luật. Mà theo Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP thì: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu”.

Do đó, bạn có thể lấy lại mảnh đất mà vợ bạn đã giao dịch trái pháp luật bằng cách yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển quyền sử dụng đất giữa vợ bạn với người thứ ba là vô hiệu. Trong đơn xin ly hôn của bạn, bạn hoàn toàn có thể đề cập vấn đề này, yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu không, bạn hoàn toàn có thể làm đơn khởi kiện mới gửi đến Tòa án cấp huyện nơi có mảnh đất đó yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển quyền sở hữu trên vô hiệu.

Liên hệ ngay để được tư vấn luật kịp thời!

CÔNG TY LUẬT THÁI AN

Đối tác pháp lý tin cậy

TƯ VẤN

Bạn cần được tư vấn hay yêu cầu dịch vụ pháp lý ?

Hãy gọi
1900 6218

Hoặc viết email tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An