Hỏi đáp về kết hôn 1098 Lượt xem

Quy định của pháp luật về cưỡng ép kết hôn?

Tôi năm nay 27 tuổi bị gia đình cưỡng ép kết hôn. Bố mẹ tôi đe dọa sẽ từ mặt và không cho tôi về nhà nữa nếu tôi không đồng ý. Tôi muốn hỏi về quy định của pháp luật về cưỡng ép kết hôn?

Hỏi: Tôi năm nay 27 tuổi bị gia đình bắt chia tay người yêu vì tôi đã lớn tuổi mà người yêu tôi đang trong thời gian đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên chưa thể kết hôn được. Gia đình tôi muốn tôi kết hôn với một người khác cùng quê, hai bên gia đình đã gặp mặt và định ngày kết hôn mà không có sự đồng ý của tôi. Khi tôi kiên quyết không đồng ý đi đăng ký kết hôn thì bố mẹ tôi đe dọa sẽ từ mặt tôi và không bao giờ cho phép tôi về nhà nữa. Theo tôi được biết, pháp luật Việt Nam cấm hành vi cưỡng ép kết hôn. Vậy quy định của pháp luật về vấn đề này là như thế nào? Mong luật sư trả lời giúp.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình đến chúng tôi Về trường hợp của bạn luật sư trả lời như sau:

Theo quy định tại điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1.Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2.Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồngvớingười khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.”

Cũng theo quy định tại khoản 9 điều 3 của Luật này thì: “ Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ”. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao ngày 23 tháng 12 năm 2000 thì cưỡng ép kết hôn là một bên hoặc cả hai bên nam và nữ bị người khác cưỡng ép (ví dụ: bố mẹ của người nữ do nợ của người nam một khoản tiền nên cưỡng ép người nữ phải kết hôn với người nam để trừ nợ; do bố mẹ của hai bên có hứa hẹn với nhau nên cưỡng ép con của họ phải con của họ phải kết hôn với nhau...) buộc người bị cưỡng ép kết hôn trái với nguyện vọng kết hôn. Hướng dẫn còn nhắc đến trường hợp ép buộc kết hôn đó là một bên ép buộc (ví dụ: đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần hoặc dùng vật chất...) nên buộc bên bị ép buộc đồng ý kết hôn. Ở đây cũng tính đồng thời là trường hợp cưỡng ép kết hôn. Việc một trong hai bên hoặc cả hai bên vì lí do bị cưỡng ép mà kết hôn với nhau trái ý muốn hoàn toàn không đảm bảo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ trong chế định kết hôn của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật nói trên thì hiện nay pháp luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau “ Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 điều này yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này” – quy định tại khoản 1 điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn có thể lựa chọn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc không. Việc lựa chọn có chấm dứt cuộc hôn nhân trái pháp luật đó hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người bị cưỡng ép, lừa dối. Pháp luật quy định như vậy một phần là để người bị lừa dối, cưỡng ép kết hôn có thể đưa ra sự lựa chọn của mình và cũng một phần là để tạo điều kiện để bảo vệ cuộc hôn nhân đó. Bởi có thể tuy ban đầu bị lừa dối, cưỡng ép nhưng sau một thời gian kết hôn cuộc hôn nhân đó vẫn hạnh phúc các bên vẫn tự nguyện sống cùng nhau thì không cần thiết phải hủy bỏ.

Đối với những người có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn thì tùy thuộc vào mức độ của hành vi mà sẽ phải chịu các chế tài hình sự hoặc hành chính tương ứng.

Theo quy định tại điều 146 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì: “Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Tùy thuộc vào mức độ thực hiện cùng cách thức thực hiện hành vi như hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải...mà pháp luật sẽ xem xét giải quyết theo chế tài hình sự.

Theo điều 55 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Thì người có hành vi cưỡng ép người khác kết hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác nhưng chưa đủ cấu thành tội phạm thì sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Nếu có thắc mắc hãy liên lạc lại với chúng tôi để được giải đáp.

Công ty luật Thái An.     

Đối tác pháp lý tin cậy.

 

TƯ VẤN

Bạn cần được tư vấn hay yêu cầu dịch vụ pháp lý ?

Hãy gọi
1900 6218

Hoặc viết email tới
contact@luatthaian.vn

  Gọi 1900 6218
Chat với Luật Thái An