Tài trợ bởi vatgia.com

Hỏi đáp về kết hôn 336 Lượt xem

Căn cứ chung để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật

Cùng công ty Luật Thái An tìm hiểu về các căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Kính chào Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình. Xin hỏi Luật sư, các căn cứ chung để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì? Trân trọng cảm ơn Luật sư! ( Câu hỏi từ bạn Hồng Hải- Thái Nguyên).

Tòa án xử hủy kết hôn trái pháp luật

Chào bạn Hải. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến công ty Luật của chúng tôi. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau.

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn, cụ thể là vi phạm một trong các qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài được áp dụng đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật, thể hiện thái độ của Nhà nước về việc không thừa nhận giá trị pháp lý của quan hệ hôn nhân.

Căn cứ theo Luật Hôn nhân gia đình 2014 và Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 6 tháng 1 năm 2016 quy định về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật như sau:

Thứ nhất, nam, nữ kết hôn khi chưa đến tuổi kết hôn luật định. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn, trong đó có quy định về độ tuổi  “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.

Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:

- Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

- Nếu đã xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.

Thứ hai, việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện. Tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình quy định“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyn quyết định” là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ. Kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện bảo gồm: Việc kết hôn thiếu sự tự nguyện của nam, nữ là khi nam nữ kết hôn có hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối để kết hôn; Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ; Lừa dối kết hôn là việc một trong hai người kết hôn đã nói sai sự thật về người đó làm cho người kia tưởng làm mà kết hôn hoặc một trong hai người kết hôn đã hứa hẹn làm việc gì đó có lợi cho người kia làm người đó đồng ý kết hôn.Nếu vi phạm điều này thì đây cũng chính là một căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Thứ ba, người mất năng lực hành vi dân sự nhưng vẫn kết hôn.

Thứ tư, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác. “Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

-  Người nào đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

- Người nào xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

- Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.

Thứ năm, những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc người có họ trong phạm  vi ba đời kết hôn với nhau.

Thứ sáu, cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi; những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kết với con riêng của chồng mà lại kết hôn với nhau.

Cuối cùng, hai người cùng giới tính kết hôn với nhau.

Như vậy, chỉ cần có một trong các dấu hiệu nêu trên thì Tòa án đã có căn cứ để xử hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trên đây là giải đáp cho thắc mắc của bạn Hải. Nếu bạn còn bất cứ thắc mắc nào, xin vui lòng liên hệ trực tiếp tới Luật sư công ty Luật Thái An để nhận được sự tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng!